Skip to Content

Chúa Jesus là ai?

Trích dẫn những câu Kinh Thánh về Chúa Jesus
December 27, 2025 by
Administrator
| No comments yet
  1. Lời tiên tri về Đấng Messia Chúa Jesus

Ê-sai 9:6  Vì có một con trẻ sanh cho chúng ta, tức là một con trai ban cho chúng ta; quyền cai trị sẽ nấy trên vai Ngài. Ngài sẽ được xưng là Ðấng Lạ lùng, là Ðấng Mưu luận, là Ðức Chúa Trời Quyền năng, là Cha Ðời đời, là Chúa Bình an. 

Chú ý từ  "El Gibbor" (אֵל גִּבּוֹר) is the specific Hebrew phrase that means "Mighty God"


Esai 10:21   Từ  "El Gibbor" (אֵל גִּבּוֹר) cũng được dùng ở 

Esai 10: 21 Một số dân sót, tức là dân sót của Gia-cốp, sẽ trở lại cùng Ðức Chúa Trời quyền năng.


 Nê-hê-mi 9: 32 Từ  "El Gibbor" (אֵל גִּבּוֹר) có thêm mạo từ xác định  "הָ" (ha-) cho cả "אֵל" (El) and "גִּבּוֹר" (gibbor), making it "the El, the mighty one" ở - Vậy bây giờ, hỡi Ðức Chúa Trời của chúng tôi ơi! là Ðức Chúa Trời rất lớn rất quyền năng và đáng sợ, xin chớ coi nhỏ mọn trước mặt Chúa các việc đau đớn cực nhọc đã giáng trên chúng tôi, trên các vua và các quan trưởng, trên những thầy tế lễ và các tiên tri, trên tổ phụ chúng tôi, và trên hết thảy dân sự của Chúa, từ đời các vua A-si-ri cho đến ngày nay.



Giê-rê-mi 32:18 Từ  "El Gibbor" (אֵל גִּבּוֹר) có thêm mạo từ xác định  "הָ" (ha-) cho cả "אֵל" (El) and "גִּבּוֹר" (gibbor), making it "the El, the mighty one" ở  

Giê-rê-mi 32:18 Ngài tỏ ra sự thương xót ra cho muôn vàn, báo trả sự gian ác ông cha vào mình con cháu nối sau. Ngài là Ðức Chúa Trời lớn, là Ðấng toàn năng, danh Ngài là Ðức Giê-hô-va vạn quân.

Dựa trên 4 câu trích dẫn nguyên ngữ gốc, ta thấy rằng Chúa Jesus có cùng bản chất thiêng liêng với Đức Chúa Trời, là vì danh hiệu גִּבּוֹר (El Gibbor - "Đấng Toàn Năng") .

Ê-sai 9:6 tiên tri Đấng Mê-si sẽ có danh hiệu אֵל גִּבּוֹר (El Gibbor) - "Đấng Toàn Năng"

Giê-rê-mi 32:18 mô tả YHWH (Đức Chúa Cha) là הָאֵל הַגִּבּוֹר (ha'El haggibbor) - "ĐẤNG Toàn Năng"

2.  Bản Chất Của Chúa Jesus Ở Tân ước 

Giăng 1:1 - Ban đầu có Ngôi Lời, Ngôi Lời ở cùng Ðức Chúa Trời , và Ngôi Lời là Ðức Chúa Trời.  (god(God) was the Word ?)  (Thần tính Đức Chúa Trời là Ngôi lời ) 


Giăng 10:30 - "Ta và Cha là một" 

ἕν (hen) - Đây là dạng số ít trung tính của từ "một" trong tiếng Hy Lạp. Điều đáng chú ý là nó ở dạng trung tính chứ không phải nam tính, điều này gợi ý đến sự thống nhất về bản chất hay tính chất hơn là về danh tính cá nhân. 

Giăng 20:28 - Thô-ma gọi Chúa Giê-su là "Chúa tôi và Đức Chúa Trời tôi" Từ Chúa θεος được dùng ở Giăng 1:1


Cô-lô-se 2:9 - "Vì sự đầy dẫy của bổn tánh (thần tính) Ðức Chúa Trời thảy đều ở trong Ðấng ấy như có hình."


θεότητος (theotetos) - "divinity/deity". 

 Phao-lô đang khẳng định rằng trong Chúa Giê-su Christ ngự trị toàn bộ sự đầy đủ của bản chất thần tính (theotes)(God) , không phải chỉ là các thuộc tính hoặc phẩm chất giống thần (theiotes)

This is crucial - Paul uses theotes (divinity/deity) rather than theiotes (divine quality). The distinction matters: theotes refers to the essential nature of God himself, while theiotes would refer to divine attributes or godlike qualities. Paul is saying Christ possesses the very essence of deity, not merely divine characteristics.

=> Chúa Jesus mang đầy đủ tính chất của Đức Chúa Trời. 

Chuá Jesus nói mình là ai?

 Esai 44:6 Ðức Giê-hô-va, là Vua và Ðấng Cứu chuộc của Y-sơ-ra-ên, là Ðức Giê-hô-va vạn quân, phán như vầy: Ta là đầu tiên và cuối cùng; ngoài ta không có Ðức Chúa Trời nào khác.


Esai 48:12 

12 Hỡi Gia-cốp, và ngươi, Y-sơ-ra-ên ta đã gọi, hãy nghe lời ta: Ta là Ðấng đó; ta là đầu tiên và cùng là cuối cùng.

Esai 41:4 Ai đã làm và thành tựu việc nầy? Ấy là chính ta, Ðức Giê-hô-va, là đầu tiên, mà cũng sẽ ở với cuối cùng.

Khải Huyền 1:17

​17 Vừa thấy người, tôi ngã xuống chơn người như chết; nhưng người đặt tay hữu lên trên tôi, mà rằng: Ðừng sợ chi, ta là Ðấng trước hết và là Ðấng sau cùng,

​18 là Ðấng Sống, ta đã chết, kìa nay ta sống đời đời, cầm chìa khóa của sự chết và âm phủ.

=> Chúa Jesus là  1 phần của Jehova (ta là Ðấng trước hết và là Ðấng sau cùng)  trong xác thịt 

Giăng 1:18

"Đức Chúa Trời không ai đã thấy bao giờ; Đức Chúa Trời độc sinh Đấng đang ở trong lòng của Cha, chính Ngài đã bày tỏ. Giăng gọi chúaJesus là "θεὸς" (theos - Đức Chúa Trời), cùng Giăng 1:1, Giăng 20:28 



Công vụ 20:28 Anh em hãy giữ lấy mình, mà luôn cả bầy mà Ðức Thánh Linh đã lập anh em làm kẻ coi sóc, để chăn Hội thánh của Ðức Chúa Trời, mà Ngài đã mua bằng chính huyết mình.


 từ "God" thực sự CHÍNH LÀ θεοῦ (theou - dạng sở hữu cách của thes θεός).

Dịch trực tiếp: "của Đức Chúa Trời mà Ngài đã mua lại qua máu của chính Ngài"

làm sao Đức Chúa Trời có thể có máu?

Jesus vừa là Thiên Chúa vừa là người, nên có thể nói "máu của Đức Chúa Trời"


Tit 2:13 13 đương chờ đợi sự trông cậy hạnh phước của chúng ta, và sự hiện ra của sự vinh hiển Ðức Chúa Trời lớn và Cứu Chúa chúng ta, là Ðức Chúa Jêsus Christ,


(AI Phân tích cấu trúc ngữ pháp _Không thiên vị giáo lý nào:

  1. τὴν μακαρίαν ἐλπίδα καὶ ἐπιφάνειαν - "sự mong đợi phước hạnh và sự hiện ra"

    • Một mạo từ xác định (τὴν) chi phối cả hai danh từ
    • Quy tắc Granville Sharp: khi hai danh từ được nối bởi καὶ (và) dưới một mạo từ, chúng thường chỉ cùng một đối tượng
  2. τῆς δόξης - "của sự vinh hiển" (sở hữu cách đơn)

  3. τοῦ μεγάλου θεοῦ καὶ σωτῆρος ἡμῶν - "của Đức Chúa Trời vĩ đại và Đấng Cứu Rỗi của chúng ta"

    • MỘT mạo từ xác định (τοῦ) chi phối cả "θεοῦ" và "σωτῆρος"
    • Quy tắc Granville Sharp áp dụng: cùng chỉ một đối tượng
  4. Ἰησοῦ Χριστοῦ - "Jesus Christ" (đồng cách, làm rõ danh tính)

Kết luận ngữ pháp thuần túy:

Theo cấu trúc Hy Lạp, câu này nói về MỘT sự hiện ra của MỘT nhân vật được gọi vừa là "Đức Chúa Trời vĩ đại" vừa là "Đấng Cứu Rỗi của chúng ta", và nhân vật đó được xác định là Jesus Christ.

Đây là ứng dụng chuẩn của quy tắc Granville Sharp trong ngữ pháp Hy Lạp cổ điển - không liên quan đến giáo lý mà là quy tắc ngữ pháp khách quan.


9 Cũng vì đó nên Ðức Chúa Trời đã đem Ngài lên rất cao, và ban cho Ngài danh trên hết mọi danh. 

=> Danh Jesus sẽ như thế nào với danh Jehova ? 


Colose 1:15 Ấy chính Ngài là hình ảnh của Ðức Chúa Trời không thấy được, và Ðấng sanh ra đầu hết thảy mọi vật dựng nên.

Nếu Christ tạo dựng τὰ πάντα (mọi vật), thì về mặt logic, Ngài không thể là một phần của τὰ πάντα mà Ngài tạo ra.

Dựa trên phân tích ngữ pháp tiếng Hy Lạp và bối cảnh Colossians 1:15, AI giải thích ý nghĩa của "firstborn" (πρωτότοκος - prototokos):

Phân tích ngữ pháp tiếng Hy Lạp:

πρωτότοκος (prototokos) được cấu tạo từ:

  • πρῶτος (protos) = đầu tiên, trước tiên
  • τίκτω (tikto) = sinh ra, đẻ ra

Ý nghĩa trong bối cảnh:

"Firstborn of every creature" có thể hiểu theo hai cách:

1. Ý nghĩa thứ bậc/quyền uy:

  • Πρωτότοκος (prOtotokos) thường chỉ địa vị ưu tiên và quyền thừa kế, không nhất thiết có nghĩa thời gian
  • Trong văn hóa Do Thái, "con đầu lòng" có quyền uy đặc biệt và thừa kế 
  • Genitive of Rule/Supremacy (Thống trị)
  • "Đầu tiên trên tạo vật" → Christ cai trị tạo vật, không thuộc về tạo vật

2. Mối quan hệ với tạo vật:

  • Πάσης κτίσεως (pases ktiseos) = "của mọi tạo vật"
  • Có thể hiểu là:

    • Đầu tiên trong tạo vật (có nghĩa Ngài là tạo vật)
    • Đầu tiên trên tạo vật (có nghĩa Ngài vượt trên tạo vật)

Bối cảnh Colossians 1:

Câu 16-17 làm rõ: "Vì trong Ngài, mọi vật đã được dựng nên... Ngài có trước mọi vật, và mọi vật đều bởi Ngài mà đứng vững"

Điều này cho thấy Chúa Giê-su là Đấng Tạo Hóa, không phải tạo vật, và "firstborn" ở đây chỉ địa vị tối cao của Ngài đối với mọi tạo vật.

=> Chúa Jesus không phải là vật được tạo dựng nên, mà Đấng Sáng Tạo, cũng đồng với Đức Chúa Trời

Jehova là Đấng có trước mọi sự , Chúa Jesus cũng vậy


Chúng ta có được thờ lạy , ngợi khen chúa Jesus hay không ?


Xuất Ê-díp-tô Ký 20:

3 Trước mặt ta, ngươi chớ có các thần khác.

4 Ngươi chớ làm tượng chạm cho mình, cũng chớ làm tượng nào giống những vật trên trời cao kia, hoặc nơi đất thấp nầy, hoặc trong nước dưới đất.

Ngươi chớ quì lạy trước các hình tượng đó, và cũng đừng hầu việc chúng nó; vì ta là Giê-hô-va Ðức Chúa Trời ngươi, tức là Ðức Chúa Trời kỵ tà, hễ ai ghét ta, ta sẽ nhơn tội tổ phụ phạt lại con cháu đến ba bốn đời,

6 và sẽ làm ơn đến ngàn đời cho những kẻ yêu mến ta và giữ các điều răn ta.


23 Ta đã chỉ mình mà thề, lời công bình ra từ miệng ta sẽ chẳng hề trở lại: mọi đầu gối sẽ quì trước mặt ta, mọi lưỡi sẽ chỉ ta ma thề.


Roma 14: 8-12

8 vì nếu chúng ta sống, là sống cho Chúa, và nếu chúng ta chết, là chết cho Chúa. Vậy nên chúng ta hoặc sống hoặc chết, đều thuộc về Chúa cả.

9 Ðấng Christ đã chết và sống lại, ấy là để làm Chúa kẻ chết và kẻ sống.

10 Nhưng ngươi, sao xét đoán anh em mình? Còn ngươi, sao khinh dể anh em mình? Vì chúng ta hết thảy sẽ ứng hầu trước tòa án Ðức Chúa Trời.

11 Bởi có chép rằng: Chúa phán: Thật như ta hằng sống, mọi đầu gối sẽ quì trước mặt ta, Và mọi lưỡi sẽ ngợi khen Ðức Chúa Trời.

12 Như vậy, mỗi người trong chúng ta sẽ khai trình việc mình với Ðức Chúa Trời.

2 Corinhto 5: 10 Bởi vì chúng ta thảy đều phải ứng hầu trước tòa án Ðấng Christ, hầu cho mỗi người nhận lãnh tùy theo điều thiện hay điều ác mình đã làm lúc còn trong xác thịt.

11. Vậy chúng tôi biết Chúa đáng kính sợ, nên tìm cách làm cho người ta đều tin; Ðức Chúa Trời biết chúng tôi, và tôi mong anh em cũng biết chúng tôi trong lương tâm mình.


Philip 2:9 Cũng vì đó nên Ðức Chúa Trời đã đem Ngài lên rất cao, và ban cho Ngài danh trên hết mọi danh,

10 hầu cho nghe đến danh Ðức Chúa Jêsus, mọi đầu gối trên trời, dưới đất, bên dưới đất, thảy đều quì xuống,

11 và mọi lưỡi thảy đều xưng Jêsus Christ là Chúa, mà tôn vinh Ðức Chúa Trời, là Ðức Chúa Cha.


Khải huyền chương 5: 7 Chiên Con bước tới, lấy sách ở tay hữu đấng ngự trên ngôi.

Khi lấy sách, bốn con sanh vật và hai mươi bốn trưởng lão bèn sấp mình xuống trước mặt Chiên Con, mỗi kẻ cầm một cây đờn và những hình vàng đầy hương; đó là những lời cầu nguyện của các thánh.

9 Chúng hát một bài ca mới rằng: Ngài đáng lấy quyển sách mà mở những ấn ra; vì Ngài đã chịu giết lấy huyết mình mà chuộc cho Ðức Chúa Trời những người thuộc về mọi chi phái, mọi tiếng, mọi dân tộc, mọi nước,

10 và Ngài đã làm cho những người ấy nên nước, và thầy tế lễ cho Ðức Chúa Trời chúng ta; những người ấy sẽ trị vì trên mặt đất.

11 Ðoạn, tôi nhìn xem, nghe bốn bên ngôi và các sanh vật cùng các trưởng lão, có tiếng của vô số thiên sứ; thiên sứ hàng muôn hàng ngàn,

12 đồng nói lên một tiếng lớn rằng: Chiên Con đã chịu giết đáng được quyền phép, giàu có, khôn ngoan, năng lực, tôn quí, vinh hiển và ngợi khen!

13 Tôi lại nghe mọi vật dựng nên trên trời, dưới đất, bên dưới đất trên biển, cùng mọi vật ở đó đều nói rằng: Chúc cho Ðấng ngồi trên ngôi cùng Chiên Con được ngợi khen, tôn quí vinh hiển và quyền phép cho đến đời đời!

14 Rồi bốn con sanh vật đều nói: A-men. Và các trưởng lão sấp mình xuống mà thờ lạy.

=> Nếu chúa Jesus là vật tạo dựng, mà Đức Chúa Trời yêu cầu tất cả cả các tạo vật khác thờ lạy Jesus vậy là trái với Xuất Ê-díp-tô Ký, vậy Chúa Jesus là Đức Chúa Trời được thờ lạy và làm điều đó làm vinh hiển Đức Chúa Trời như Philip 2:11

Giới từ εἰς (eis) chỉ ra mục đích và kết quả cuối cùng. Khi mọi lưỡi tuyên xưng "Chúa Giê-su là Chúa" (κύριος Ἰησοῦς Χριστός), hành động này không tự thân làm vinh hiển Chúa Giê-su một cách độc lập, mà hướng về và đóng góp vào vinh hiển của Đức Chúa Cha

Sign in to leave a comment
Người Giàu Khó Vào Nước Thiên Đàng Phải Ko?